Dịch vụ tài chính và thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO: Thành công đi liền thách thức

Dịch vụ tài chính và thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO: Thành công đi liền thách thức

 16/02/2012 - 03:21 
Dịch vụ tài chính và thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO: Thành công đi liền thách thức

Thực hiện các cam kết với WTO trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và thuế quan cũng là những nội dung chính trong buổi tọa đàm “Dịch vụ Tài chính và Thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO” do Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính tổ chức mới đây.

Có thể nói, việc gia nhập WTO đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy thương mại, đầu tư và tự do hóa tài chính của Việt Nam. Riêng về lĩnh vực dịch vụ tài chính (bảo hiểm, chứng khoán và kế toán – kiểm toán và tư vấn thuế) và thuế quan, dễ dàng nhận thấy nhiều thành tựu và thách thức đáng bàn.

Thành tựu nhiều…


Một là, các cam kết trong dịch vụ tài chính đã được thực hiện theo đúng lộ trình, cùng với việc hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi các cơ chế chính sách và các văn bản pháp luật phù hợp. Theo Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Việt Nam đã chủ động thực hiện những cam kết đề ra. Dịch vụ tài chính được đánh giá là có độ mở cao, tạo điều kiện gia nhập thị trường, mở cửa cho một số hoạt động cung cấp qua biên giới.

Chẳng hạn, đối với các cam kết về dịch vụ bảo hiểm, Việt Nam đã kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một cách kịp thời các quy định hướng dẫn Luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 61/2010/QH12, ngày 24/11/2010). Các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm của Việt Nam có tốc độ tương đối nhanh, đến nay, việc cấp phép cho các doanh nghiệp (DN) nước ngoài hoạt động tại thị trường trong nước đã được thực hiện theo đúng cam kết, thể hiện ở việc gia tăng nhanh số lượng các DN, môi giới bảo hiểm liên doanh với nước ngoài cũng như các văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm và công ty môi bảo hiểm nước ngoài.

Các cam kết về dịch vụ chứng khoán cũng đã thực hiện đúng lộ trình cam kết. Nhiều cam kết đều đã được nội luật hóa như: Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham gia của NĐT nước ngoài trên TTCK Việt Nam với mức trần 49% theo cam kết; Quyết định số 88/2009/QĐ-TTG ngày 18/6/2009 ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của NĐT nước ngoài trong các DN Việt Nam; Cam kết về tỷ lệ tham gia của nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán dự kiến sẽ thực hiện tiếp theo đúng lộ trình vào năm nay…

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thực hiện các cam kết tài chính khác thông qua việc ban hành và sửa đổi các quy định như: Điều chỉnh, sửa đổi phù hợp với các cam kết quốc tế về quản lý giá (Nghị định 75/2008/NĐ-CP, Thông tư 104/2008/TT-BTC); Thực hiện định giá hải quan (Nghị định 40/2007/NĐ-CP và Thông tư 205/2010/TT-BTC) và thực hiện cam kết về phí, lệ phí, trong đó tuân thủ nghiêm túc các cam kết về phí, lệ phí liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu theo đúng nguyên tắc không vượt quá chi phí bỏ ra (Thông tư 43/2009/TT-BTC)…

Hai là, các cam kết về thuế được thực hiện tuân thủ đầy đủ các cam kết trong WTO theo đúng lộ trình. Đánh giá về cam kết đối với lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu, theo Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính), việc thực hiện của Việt Nam khẩu trong 5 năm qua đã được thể hiện qua các văn bản khác nhau của Bộ Tài chính theo đúng lộ trình cam kết. Thậm chí trong một số trường hợp, việc cắt giảm thuế đã đi trước so với lộ trình cam kết mà Việt Nam đã đưa ra.

Theo Vụ Chính sách Thuế, mức thuế bình quân giản đơn của Biếu thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2011 là 10,47%. Trong một số trường hợp, mức thuế suất áp dụng đã được quy định thấp hơn so với mức cam kết để phù hợp với mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô và khuyến khích sản xuất kinh doanh trong nước, thúc đẩy xuất khẩu, trong đó chủ yếu là nhóm hàng là vật tư, nguyên nhiên vật liệu, linh kiện phụ tùng và máy móc, thiết bị mà trong nước không sản xuất được. Các cam kết liên quan đến thuế nội địa như Giá trị gia tăng, Tiêu thụ đặc biệt, Thu nhập DN đều đã được nội địa hóa thông qua việc sử đổi, bổ sung các luật thuế liên quan. Trong năm 2011, Việt Nam đã thực hiện cắt giảm 924 dòng thuế, mức cắt giảm cao nhất là 10%, mức thấp nhất là 1%, mức cắt giảm chủ yếu là từ 1% đến 3%.

Ba là, năng lực cạnh tranh của các DN cung cấp dịch vụ tài chính được từng bước nâng lên, quy mô hoạt động và phát triển của các thị trường cung cấp dịch vụ tài chính tăng lên đáng kể sau 5 năm gia nhập WTO. Việc gia nhập WTO còn giúp thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam phát triển mạnh hơn với sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty bảo hiểm liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Tính đến cuối năm 2011, thị trường bảo hiểm Việt Nam có khoảng 40% DN bảo hiểm phi nhân thọ và gần 100% DN bảo hiểm nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, năng lực tài chính của các DN bảo hiểm được nâng cao. Tính đến năm 2010, vốn chủ sở hữu của DN bảo hiểm tăng gấp 4 lần, tổng tài sản tăng 2,3 lần, doanh thu tăng hơn 2 lần, dự phòng tăng 1,9 lần, thu nhập từ đầu tư và lợi nhuận sau thuế tăng 2,3 lần…

Trong khi đó, quy mô thị trường chứng khoán (TTCK) tăng lên đáng kể. Giá trị vốn hoá TTCK khá cao, cụ thể: giá trị vốn hoá năm 2006: 22,7% GDP; năm 2007: 40% GDP; năm 2008: 20% GDP; năm 2009: 38% GDP; năm 2010: 36,5% và năm 2011 ước: 21% GDP. Đã có hơn 1.700 tổ chức và gần 14.000 NĐT cá nhân nước ngoài. TTCK cũng phát triển trở thành kênh huy động vốn của DN, cũng là kênh đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Tính công khai, minh bạch trên thị trường được cải thiện… Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng tăng mạnh (ước tính khoảng 7,6 tỷ USD).

Đối với thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán, thuế, quy mô của các công ty kế toán, kiểm toán và tư vấn thuế đã tăng lên đáng kể. Số khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty dịch vụ kế toán tăng từ con số 309 (năm 2007) lên trên 1100 (năm 2011). Hiện có 165 công ty kiểm toán, với gần 1.811 nhân viên có chứng chỉ kiểm toán viên, kế toán viên đã được cấp chứng chỉ là 169 người; 26 đại lý thuế với 577 người được cấp chứng chỉ hành nghề…

Bốn là, sản phẩm dịch vụ tài chính phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với điều kiện Việt Nam và đồng thời có xu hướng tuân thủ theo thông lệ sản phẩm bảo hiểm quốc tế. Số lượng sản phẩm bảo hiểm ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, trong đó tính đến năm 2010 đã có 800 sản phẩm bảo hiểm. Kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng, bắt đầu mở rộng sang các loại hình phi truyền thống (điện thoại, internet, qua ngân hàng…).

Trong khi đó, các dịch vụ kế toán - kiểm toán được đa dạng hóa thành nhiều nhóm và bổ sung các loại dịch vụ mới (như kiểm toán và định giá; dịch vụ soát xét báo cáo tài chính; tư vấn tái cấu trúc DN; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ; tư vấn sát nhập và giải thể DN…). Ngoài các dịch vụ kiểm toán thông thường còn cung cấp các dịch vụ dịch vụ đào tạo bồi dưỡng kiến thức; tư vấn quản lý tài chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật, định giá; tư vấn tái cấu trúc DN; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ…

Năm là, dù thực hiện cắt giảm hàng rào thuế quan song nhờ các biện pháp cải cách mạnh mẽ về hệ thống thu ngân sách, tổng thu NSNN trong 5 năm qua được duy trì ổn định, góp phần đảm bảo được các nhu cầu chi ngày càng gia tăng của NSNN. Bình quân giai đoạn 2006 – 2010, tỷ lệ tổng thu NSNN của Việt Nam so với GDP bằng khoảng 28,4% GDP, trong đó mức độ động viên ngân sách từ thuế, phí và lệ phí là 25,6% GDP. Năm 2011, tổng thu NSNN ước ở mức 26,9% GDP.

Theo Vụ Chính sách Thuế, qua số liệu thống kê về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và số thu ngân sách đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu từ năm 2006 đến nay cho thấy, tuy phải thực hiện cắt giảm thuế hàng năm theo cam kết WTO nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu về cơ bản năm sau cao hơn năm trước (trừ năm 2009) và số thu ngân sách đối với hàng hoá xuất nhập khẩu năm sau đều cao hơn năm trước (từ 15,5% đến 51,7%), vẫn đảm bảo phù hợp với mục tiêu thu NSNN của cả hệ thống chính sách thuế.

Bên cạnh đó, nhìn chung, tác động của việc cắt giảm thuế trong WTO đối với sản xuất trong nước là không đáng kể vì mức cắt giảm bình quân hàng năm chủ yếu ở mức 2% đến 3%, nhiều mặt hàng sau khi cắt giảm vẫn có mức bảo hộ cao ở mức trên 20%. Riêng ngành dệt may là có mức cắt giảm lớn (sợi giảm từ 20% xuống 5%; vải giảm từ 40% xuống 12%; quần áo giảm từ 50% xuống 20%), song vẫn là ngành có năng lực cạnh tranh quốc tế cao, mặc dù cắt giảm thuế lớn nhưng sản xuất của ngành dệt may vẫn tăng trưởng mạnh. Việt Nam đã lọt vào danh sách 10 nước và vùng lãnh thổ có kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới.

Hơn nữa, bất chấp suy thoái toàn cầu và những tác động bên ngoài do hội nhập kinh tế, song xuất nhập khẩu Việt Nam kể từ khi gia nhập WTO, đặc biệt trong năm 2011 vừa qua đã đạt được những kỷ lục rất đáng khen ngợi. Xuất khẩu vẫn được coi là lĩnh vực sáng nhất so với nhiều ngành, lĩnh vực khác, thậm chí “cán đích” từ tháng 11/2011 với tổng mức kim ngạch xuất khẩu lên đến 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của nước ta năm 2011 đạt 1.097 USD, cao hơn nhiều so với mức 831 USD đã đạt được năm 2010. Đây là mức cao thứ 5 trong các nước ở khu vực Đông Nam Á (chỉ kém  Singapore, Brunei, Malaysia, Thái Lan)…

Thách thức không ít…

Theo GS.,TSKH.Nguyễn Mại, việc tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, một mặt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy hoạt động kinh tế, song mặt khác, nền kinh tế sẽ phải thường xuyên chịu áp lực từ chu chuyển hàng hóa, tín dụng, vốn đầu tư quốc tế gắn với tình trạng bất ổn về giá cả hàng hóa, dịch vụ, khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới. ThS.Nguyễn Thị Nhung, Ngân hàng Nhà nước cũng cho rằng, kể từ khi gia nhập WTO, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu nói chung, Việt Nam nói riêng có nhiều biến động khó lường, Ngân hàng Nhà nước đã và đang gặp nhiều khó khăn trong việc điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá. Việc mở rộng hội nhập cũng khiến Việt Nam bị tác động mạnh mẽ từ hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu với sự châm ngòi từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ cuối năm 2008 (kéo theo sự suy thoái kinh tế toàn cầu) và tình hình nợ công bùng nổ ở châu Âu. Thêm vào đó, giá cả hàng hóa biến động mạnh nổi lên như giá dầu biến động nhiều chiều với mức tăng giảm lớn trong giai đoạn 2008 đến nay. Thị trường tài chính biến động phức tạp, giá vàng liên tục tăng cao, chỉ số chứng khoán trên nhiều thị trường giảm kỷ lục kể từ năm 2009…

Chuyên gia tài chính - tiền tệ Nguyễn Thị Nhung cũng cho rằng, với chính sách quản lý giao dịch vốn nới lỏng kể từ khi gia nhập WTO, dòng vốn vào ra với qui mô lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến cung cầu ngoại hối trên thị trường cũng như cán cân thanh toán tổng thể, tạo nên sức ép lên tỷ giá và qui mô dự trữ ngoại hối. Do biến động của thị trường ngoại hối, vào nhiều thời điểm đã xảy ra tình trạng khan hiếm tiến đồng trên thị trường tạo nên các cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại cũng như lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng vọt, có lúc tăng lên mức kỷ lục trên 30% buộc NHNN phải thường xuyên thay đổi chính sách và áp đặt nhiều biện pháp hành chính như đặt ra trần lãi suất huy động tiền đồng.

Theo TS.Vũ Đình Ánh, Viện Kinh tế Tài chính, qui mô nền kinh tế Việt Nam đã gia tăng tương đối nhanh chóng trong khoảng 2 thập kỷ vừa qua. Nếu tính theo giá thực tế, đến năm 2010, GDP của Việt Nam đã lên đến trên 100 tỷ USD, gấp khoảng 5 lần so với năm 1995. Theo Tổng cục Thống kê, qui mô GDP năm 2011 là 2.535 ngàn tỷ đồng, tương đương gần 120 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Việt Nam cho thấy sự thiếu ổn định mặc dù ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế luôn được coi trọng hàng đầu. Hai giai đoạn Việt Nam tăng trưởng thấp nhất đều trùng với hai cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính quốc tế là khủng hoảng tài chính khu vực 1997 - 1998 và khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 - 2009. Điều này được giải thích bởi Việt Nam định hướng tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu trong khi vẫn phải nhập khẩu rất nhiều vừa để phục vụ xuất khẩu vừa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước. Thêm vào đó, nền kinh tế Việt Nam đang có xu hướng tăng dần sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, không chỉ là nguồn vốn FDI mà còn cả nguồn vốn đầu tư gián tiếp FII, vốn ODA lẫn vốn vay thương mại nên ngày càng dễ bị tổn thương, mất ổn định khi nền kinh tế tài chính thế giới có biến động...

Trong khi đó, theo Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, riêng đối với dịch vụ tài chính và thuế quan, quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO trong 5 năm qua cũng nổi lên một số thách thức sau:

Một là, khả năng cạnh tranh của DN còn hạn chế. Quy mô vốn chủ sở hữu của các DN Việt Nam nói chung còn tương đối thấp trong hầu hết tất cả các ngành. Phần lớn các DN còn có quy mô vừa và nhỏ, trong khi những DN lớn cũng không phải là những DN hoạt động thật sự hiệu quả khi hệ số ROE (lợi nhuận/vốn chủ sở hữu) còn thấp. tỷ suất sinh lời của hầu hết các ngành và DN đã bị suy giảm tương đối nhiều, đặc biệt trong năm 2008.

Hai là, hạn chế về nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập, đặc biệt trong lịch vực dịch vụ tài chính. Lao động giản đơn sau khi gia nhập WTO vẫn rất cao, trong khi lao động có kỹ năng hạn chế, lao động kỹ thuật lành nghề chưa đáp ứng yêu cầu. Các công ty bảo hiểm, chứng khoán và kế toán, kiểm toán trong nước vẫn còn thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm. Tình trạng thiếu nhân lực có kỹ năng (như tính phí bảo hiểm, quản lý rủi ro, thẩm định về bảo hiểm)…

Ba là, vấn đề quản lý cung cấp dịch vụ qua biên giới là một thách thức không nhỏ trong quá trình thực hiện các cam kết về dịch vụ tài chính. Việc cho phép sử dụng dịch vụ qua biên giới sẽ gây ảnh hưởng nhất định đến vấn đề cạnh tranh, khách hàng trên thị trường sẽ bị chia sẻ bởi nhiều công ty hơn. Nhóm DN bị ảnh hưởng nhiều nhất nhiều khả năng là nhóm các DN bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, do hiện nay khách hàng chủ yếu của các công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn nước ngoài chính là các DN có vốn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.

Bốn là, quản trị DN và hoạt động kiểm soát nội bộ vẫn còn yếu. Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý trong các DN trong nước còn ở mặt bằng thấp hơn so với các DN nước ngoài. Nguồn nhân lực chất lượng cao để đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các DN còn thiếu. Quản trị tài chính của DN còn nhiều vấn đề, trong đó tình trạng DN sản xuất kinh doanh nhưng lại đầu tư tài chính lớn; vấn đề báo cáo tài chính hợp nhất rất phức tập và chưa được quản lý một cách hiệu quả.

Năm là, chất lượng dịch vụ tài chính mặc dù đã được cải thiện trong 5 năm qua nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng và ngày càng phát triển của thị trường. Đặc biệt, chất lượng dịch vụ của các tổ chức tài chính trung gian trong nước vẫn còn có khoảng cách so với các DN nước ngoài. Trong lĩnh vực bảo hiểm, hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh còn phổ biến. Hạ phí bảo hiểm, mở rộng quyền lợi bảo hiểm, trả hoa hồng trái quy định. Tình trạng cạnh tranh quá mức làm hiệu quả kinh doanh.

Sáu là, thu NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu đang có xu hướng giảm. Nếu như năm 2001, thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chiếm 15,5% tổng thu NSNN thì đến năm 2010, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 11,2%. Trong đó, tỷ trọng thu từ thuế nhập khẩu trong tổng thu ngân sách giảm từ mức 13,91% xuống 8,91%. Theo đó, yêu cầu đặt ra là Việt Nam cần tiếp tục phải có sự cải cách về cơ cấu thu ngân sách để từng bước nâng cao vai trò của các sắc thuế khác nhằm bù đắp được sự giảm sút của số thu từ thuế nhập khẩu trong thời gian tới.

Kiến nghị

Trước những khó khăn và thách thức của việc nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia của Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính cũng đã đưa ra một số kiến nghị trong thời gian tới. Cụ thể:

Một là, cần tiếp tục đáng giá tổng thể tác động hội nhập trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và thuế quan để có đối sách dài hạn trong quá trình đàm phán các cam kết với hiệp định khác, đồng thời chủ động hoàn thiện các chính sách, quy định trong nước được phép theo WTO để nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.

Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh của DN nói chung và các DN cung cấp dịch vụ tài chính nói riêng. Trong đó, tập trung vào các vấn đề: trình độ nguồn nhân lực, tạo vốn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị, đầu tư cho nghiên cứu phát triển, hợp tác và liên kết và các chính sách của chính phủ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh.

Ba là, tăng cường quản lý giám sát cung cấp các dịch vụ tài chính, đặc biệt các dịch vụ qua biên giới. Giải pháp này đòi hỏi tăng cường năng lực quản lý, giám sát và sự phối hợp hiệu quả hơn nữa giữa các cơ quan quản lý nhà nước gồm Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
 

Nguồn: TCTC Online

Bạn hãy bình chọn cho bài viết:

Số lần Vote: 214 lượt/ Số lượt xem: 2558

Comment bài viết:

Ý kiến bạn đọc


Bạn hãy là người đầu tiên gửi ý kiến cho chúng tôi !


Tên của bạn:
Email:
Ý kiến của bạn
Các tin liên quan
Code Lịch Khai Giảng
 
Tuyển dụng nhân viên Chăm sóc khách hàng (HN)
 
 
 

Tin Tức Nổi Bật

 
 
 
 
 
 

Giảng Viên Tại AFC

Ngô Minh Anh, MA :  Trên 15 năm kinh nghiệm tư vấn dự án và tài chính công ty cho các công ty và tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài.

Xem tiếp

Trần Thị Minh Hải :  Hiện bà Trần Thị Minh Hải là giảng viên tại công ty CP Đào tạo và Tư vấn nghiệp vụ Ngân hàng, kiêm phụ trách quan hệ khách...

Xem tiếp
 
 
 
 
Google maps
 
 
Google map HCM
 
 
 
cristiano ronaldo goals 2015

Bài viết: Dịch vụ tài chính và thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO: Thành công đi liền thách thức Ðánh giá bởi: 8LK1W6R vào 24:06:2026. Dịch vụ tài chính , thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO Dịch vụ tài chính và thuế quan sau 5 năm gia nhập WTO: Thành công đi liền thách thức,Thực hiện các cam kết với... Vote: 9.8 rate 10 1000 lượt dánh giá
 
 
Giám đốc tài chính
 
Thạc sĩ Quản lý Kinh tế - ĐH Trưng Vương
X